28 July 2012

Kỹ thuật đánh phá tinh vi của Việt Cộng

Trúc Giang

* Mở bài

Trúc Giang tôi vừa nhận được email của ông Huỳnh Quốc Bình, viết ngày 18-7-2012 tại Salem, Oregon, có câu: "Việt Cộng có dốt nhưng chúng không ngu. VC sẽ không bao giờ mang dép râu, đội nón cối, mang súng AK để tiếp xúc hay "tiếp cận" người Quốc Gia, mà chúng xử dụng các vỏ bọc "từ thiện", "văn hoá", "tôn giáo" v.v…Là những thứ được xem như "bất khả xâm phạm". Vì thế, ai mơ hồ về VC là lập tức trở thành nạn nhân của cái đám đảng cướp VC ngay".(Huỳnh Quốc Bình).

Đám người thực hiện những cái "vỏ bọc" đó là tay chân, hạ bộ nằm vùng của chúng. Đám nầy cũng có những học vị "cao cấp", nên kỹ thuật rất tinh vi.

2* Những chiêu bài mới nghe rất có lý

Những chiêu bài "đoàn kết dân tộc", "xoá bỏ hận thù", "xây dựng quê hương", mới nghe thì thấy có lý quá. Các tôn giáo và truyền thống đạo đức dân tộc, luôn luôn khuyên người không nên mang thù hận trong lòng, vì như thế, thì trước hết là tự hại mình. Khoan dung, tha thứ là nếp sống được ca ngợi.

VC lợi dụng lòng nhân từ, lòng yêu nước, yêu quê hương và tình dân tộc để tuyên truyền, mục đích đánh phá các tổ chức tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền của người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại.

2.1. Chiêu bài xoá bỏ hận thù

Việt Cộng cho rằng người quân nhân VNCH là Việt gian, tay sai đế quốc Mỹ, luận điệu nầy được báo Người Việt đăng tải ngày Chủ nhật 8-7-2012 vừa qua. Nhiều người chưa thấu hiểu rằng, chiến sĩ VNCH chính là đồng bào miền Nam, vì bảo vệ tự do, dân chủ, bảo vệ nước VNCH, nên những người con của Tổ quốc, là con, là chồng, là cha trong gia đình của người miền Nam, đã tập họp trong những đơn vị quân đội, chiến đấu chống lại những tên tay sai Cộng Sản quốc tế trong kế hoạch nhuộm đỏ miền Nam và thế giới.

Sau ngày 30-4-1975, người miền Nam mới hiểu thấm thía câu nói của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, là "Mất nước là mất tất cả". Thấm thía nhất là những lúc phải xếp hàng mua từng kí gạo, khi ăn bo bo dài dài, khi bị đuổi đi kinh tế mới… Gia đình chị bán sạp vải ở chợ Bà Chiểu phải đi kinh tế mới vì không lao động sản xuất, con buôn thuộc về giai cấp bóc lột.

Đồng bào phường khóm cảm thấy không còn tự do đến nỗi phải bỏ dở công việc đang làm, khi một cậu bé 15 tuổi, tay mang băng đỏ, cầm loa triệu tập, họp mít tinh khẩn cấp tại sân trường học…

Chừng đó, mọi người mới thấy tự do là đáng quý, và trong những câu chuyện nói về lý do bị mất nước, thì nhiều người thở ra, tự nhận, mình cũng có ít nhiều trách nhiệm trong đó. Chị bán rau cải hối tiếc việc tham gia biểu tình do tay sai VC nằm vùng, giật dây hoặc tổ chức. Bác thợ hớt tóc tự nhận mình cũng có trách nhiệm trong việc cho con đi trốn quân dịch…

Việt Cộng tuyên truyền rằng, người quân nhân VNCH có mặc cảm bị bại trận, bị tù cải tạo, gia đình bị đuổi đi kinh tế mới, tài sản bị cướp, cho nên mới thù hận mà chống cộng, thậm chí những tên bưng bô cho VC, còn cho rằng chống cộng vì cảm tính, vì thánh chiến, chống cộng chết bỏ, chống cộng vì xôi thịt…

Cho rằng đấu tranh cho dân chủ là do thù hận, là hoàn toàn sai lầm. Tại sao sai?

2.1.1. Đấu tranh đòi dân chủ, tự do cho đồng bào trong nước không phải do thù hận

Những tổ chức người Việt tỵ nạn Cộng Sản đấu tranh cho dân chủ, tự do, không phải cho mình, mà là cho 83 triệu đồng bào VN chân chính trong nước (trừ 3 triệu đảng viên). Người Việt ở Mỹ, châu Âu, châu Úc đã có tự do, đã được đối xử bình đẳng với người dân bản xứ. Nhiều trường hợp con cái của họ được ưu đãi, giúp đỡ trong việc học hành còn ưu tiên hơn con cái người bản xứ, cụ thể là ở Hoa Kỳ trong việc được cấp Pell Grant.

Trong những cuộc biểu tình chống cán bộ VC, như chống Tôn Nữ Thị Ninh, Phạm Gia Khiêm, Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, thì những biểu ngữ chỉ đòi "Democracy for Vietnam", Freedom for VN", "Human Rights for VN", chả có thù hận gì cả.

2.1.2. Những "nhà dân chủ" trong nước không có thù hận mà cũng đòi tự do, nhân quyền

Những người sinh ra, lớn lên, đuợc giáo dục dưới mái trường XHCN, những cựu bộ đội, những đảng viên, họ hoàn toàn không có mặc cảm bại trận, tù cải tạo, trái lại, một số người còn ít nhiều được hưởng quyền lợi của đảng CSVN, thế tại sao họ đấu tranh đòi tự do, dân chủ?

Những người dũng cảm, bất khuất trước bạo quyền như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyền, Lê Nguyên Sang, Bùi Thị Minh Hằng, Lư Thị Thu Trang, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, chị Phạm Thanh Nghiên, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, cô Huỳnh Thục Vy, kỹ sư Đỗ Nam Hải, bác sĩ Nguyễn Hồng Sơn…họ hoàn toàn không có hận thù gì trước kia với đảng CSVN cả. Họ chỉ vì dân tộc VN mà thôi.

Tóm lại, cái chiêu bài chụp mũ, đấu tranh chống chế độ độc tài, là do thù hận thì hoàn toàn sai lầm. Nhưng rất tiếc, cũng có nhiều người tin, đó là trường hợp ca sĩ Chế Linh. Ông nầy tuyên bố: "Theo tôi nghĩ, thì cũng đã hơn ba mươi năm qua rồi, cũng nên xoá bỏ hận thù".

Cái đau hơn bị bò đá vào dế của Chế Linh là, ông ca sĩ nầy đã xoá bỏ hận thù đối với VC, nhưng VC không xoá bỏ hận thù đối với ông. Bị cấm hát ở Hà Nội vì những lý do được nêu lên, nhưng khi ở Sài Gòn, không còn những lý do bị Hà Nội cấm, nhưng ông vẫn bị bịt miệng. Hết hát. Tại sao?

Theo Trúc Giang tôi nghĩ thì, nếu ở Hà Nội, chỉ có lèo tèo vài chục hoặc vài trăm khán giả tham dự buổi nhạc hội, thì xem như không có gì xảy ra. Trái lại, báo chí ca ngợi, rất đông khán giả mến mộ Chế Linh, đó chính là lý do bị cấm hát. Nếu như một buổi nhạc hội do Đàm Vĩnh Hưng hát, mà số lượng khán giả nồng nhiệt, đông đảo như của Chế Linh, thì cũng không có gì xảy ra.

Qua vụ việc, có lẽ ca sĩ Chế Linh rút ra được một bài học về Cộng Sản, một bài học mà rất nhiều người đã lập đi lập lại cả trăm, cả ngàn lần, đó là "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm".

Việt Cộng đánh giá con người trên lập trường giai cấp và bản chất con người, hoặc sự việc. Bản chất của những người vượt biển, di tản, nói chung là chạy trốn Cộng Sản, thì được chính thức và công khai thông báo, đó là "bọn cặn bã, đĩ điếm, lười lao động".

Một số nghệ sĩ chúng ta có quan niệm, làm nghệ thuật thuần túy, không dính líu đến chính trị, nhưng khổ nỗi, bất cứ sinh hoạt nào của con người cũng có dính dáng đến chính trị cả.

2.2. Chiêu bài đoàn kết dân tộc

Cái gian manh xảo trá trong chiêu bài nầy là "lạm dụng 2 chữ Dân Tộc".

Người Việt trong nước không có hận thù hoặc mâu thuẫn nào với người Việt hải ngoại cả. Người miền Nam cũng không oán ghét gì đối với người dân miền Bắc và người Việt ở nước ngoài luôn luôn hướng về đồng bào của mình trong nước. Tóm lại, không có thù hận dân tộc.

Trước nỗi khổ của đồng bào mình trong nước, do nghèo đói và bịnh tật, thì nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện những công tác cứu trợ. Đồng bào hải ngoại, lạc quyên, đóng góp trong tinh thần lá lành đùm lá rách, hướng về đồng bào thân yêu của mình. Cao cả hơn nữa, ý nghĩa hơn nữa, là những cuộc vận động liên tục để cho dân tộc VN có được những quyền căn bản của con người, quyền công dân, mà người VN ở thế kỷ 21 rất xứng đáng được hưởng. Đó là chế độ dân chủ, tự do. Nhiều người dũng cảm, dấn thân vào "hang cọp", chấp nhận tù đày, tra khảo cũng chỉ vì cái lý tưởng mang dân chủ, tự do cho đồng bào của mình ở trong nước.

2.2.1. Truyền thống thương yêu đùm bọc lẫn nhau của người Việt Nam

Người Việt Nam cư xử với nhau như tình anh em ruột thịt, được thể hiện qua ý nghĩa của 2 chữ "Đồng bào". Là cùng chung một bào thai được sanh ra. Cùng một cha là Lạc Long Quân, một mẹ là Âu Cơ. Đó là anh em ruột thịt. Thương mến, đùm bọc nhau trong tinh thần "lá lành đùm lá rách", "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ". Bảo bọc nhau, thương yêu giúp đỡ nhau "nhiễu điều phủ lấy giá gương, người chung một nước phải thương nhau cùng". "Thương người như thể thương thân"…Miền Trung bão lụt, miền Nam cứu trợ. Ngay cả khi phải ăn bo bo dài dài, cũng thể hiện tình đồng bào "lá rách đùm lá nát".

2.2.2. Chính đảng Cộng Sản Việt Nam gây chia rẽ, hận thù dân tộc!

Thực hiện thuyết "đấu tranh giai cấp" của CNCS, VC chia khối dân ra làm nhiều giai cấp, gây hận thù để giết nhau công khai và hợp pháp. Dân tộc chia làm "Trí, phú, địa, hào", bần cố nông, tiểu tư sản rồi chủ trương "Trí, phú, địa, hào, phải đào tận gốc, trốc tận rễ". Đôi khi đảng CSVN tự kết tội mình mà không hay biết. Cho rằng phú hộ, tức những người giàu có, là do bóc lột, thế Nguyễn Tấn Dũng là một trong những người giàu nhất hiện nay, thì cũng do bóc lột mà có!

Trong Cải Cách Ruộng Đất, Hồ Chí Minh đã mời cán bộ Trung Cộng về chỉ đạo, tức là chỉ huy, điều khiển cái đám bần cố nông đấu tố, giết người một cách hợp pháp. Cải Cách Ruộng Đất tiến hành suốt nhiều năm trời, giết chết hàng vạn người, chớ đâu có phải chỉ xảy ra một ngày, một buổi đâu, thế mà tên đồ tể Hồ Chí Minh chờ cho xong chiến dịch giết người, rồi mới nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu nhận sai lầm, xin lỗi.

Tên Việt gian cõng rắn về cắn gà nhà, rước voi về vầy mồ mã tổ, chính là tên sát nhân đó. Tội trạng không thể chối cãi được.

Ngày nay, nạn kỳ thị và bất công vẫn còn. Trước kia, sau 1975, những thành phần thanh niên có liên hệ đến "ngụy quân, ngụy quyền" thì chỉ có đi thanh niên xung phong mà thôi. Thành phần nầy không được vào đại học, vì bị xếp ưu tiên hạng chót, thứ 23. Hạng nhất là gia đình cách mạng và bộ đội "phục viên". Làm gì có bộ đội phục viên còn ở lứa tuổi đi học? Làm gì có trình độ vào đại học? Đơn xin việc làm phải nạp "lý lịch trích ngang" ghi lại 3 đời tổ tiên bên nội, bên ngoại…

Ngày nay nạn bất công vẫn còn, ưu tiên việc làm cho "gia đình cách mạng", nói thẳng ra là con ông cháu cha của các cán bộ cao cấp. Con gái của Tô Huy Rứa thì làm giám đốc, con gái Nguyễn Tấn Dũng kiêm hai ba chức lãnh đạo tài chánh.

Xã hội công bằng sao được, khi các chức vụ chỉ huy từ đơn vị nhỏ nhất đến các cơ quan trung ương, đều do đảng viên nắm giữ. Hiệu trưởng các trường trung tiểu học, thủ trưởng các phòng, ban ở quận, huyện, các giám đốc cơ quan, đều do đảng viên độc quyền nắm giữ.

Những Việt kiều yêu nước về phục vụ quê hương có ai làm giám đốc hay trưởng ban, trưởng nhóm trong bộ máy nhà nước không? Hay chỉ làm nhân viên thừa hành, nói rõ ra là làm tay sai của đảng viên mà thôi, mặc dù đảng viên chả có cái bằng sáng chế nào cả, mà chỉ huy mấy ông có cả chục cái bằng phát minh trên trời dưới đất.

Tội nghiệp cho dân tộc VN, giáo dục nhà trường XHCN đào tạo một lớp người tuyệt đối trung thành với đảng. Mà đảng là ai? Đảng là ông cu li sở hỏa xa, ông thợ thiến heo, bác phu cạo mủ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh… Dân tộc VN hết trung thành với Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng thì kế tiếp, trung thành với Nông Quốc Tuấn, Nguyễn Thanh Nghị, và những thế hệ sau, thì trung thành với con cháu của những dòng họ nầy. Cũng giống như những tên tướng già nua, ngực đeo đầy huy chương, mà khúm núm khòm, lưng cúi đầu trước ông vua con Kim Jong-un ở Bắc Hàn, thấy thật tội nghiệp quá.

2.3. Chiêu bài "xây dựng quê hương"

Việt Cộng lợi dụng tình yêu quê hương của người Việt hải ngoại, kêu gọi về nước góp phần phục vụ đảng xây dựng quê hương, tức là không còn chống đối, không còn vạch trần những vi phạm nhân quyền, mà về phục tùng đảng, a tòng với những kẻ đàn áp người biểu tình yêu nước, như thế, thuận lợi cho công tác ngoại giao của đảng.

Cái gian manh của VC là tự cho "đảng CSVN là dân tộc, là tổ quốc, là quê hương, là đất nước VN".

Vượt biên, không yêu CNXH là phản quốc, là phản bội dân tộc. Và Việt kiều về nước phục vụ cho đảng thì được gọi là phục vụ quê hương. Vì đảng là dân tộc, nên hoà giải hoà hợp dân tộc có nghĩa là phục tùng đảng, dân tộc VN có bao giờ thù hận nhau đâu?  Đấu tranh cho dân chủ, tự do cho dân tộc thì bị ghép là hận thù dân tộc.

Phục vụ đất nước là vô điều kiện. Tổng thống Kennedy phát biểu trong buổi lễ nhậm chức ngày 20-1-1961, đại ý như sau "Đừng hỏi đất nước phải làm gì cho bạn-Hỏi rằng bạn có thể làm gì cho đất nước" (Ask not what your country can do for you-Ask what you can do for your country.)

Một số Việt kiều yêu nước chưa làm gì mà đòi tiền lương phải bằng lương ở ngoại quốc. Một số xin được mua nhà cửa, chờ chực suốt 3 năm mà không được mua, bèn than phiền đủ thứ. Câu chuyện vị GS Việt kiều Nhật, Đặng Lương Mô, mua đất của công ty nhà nước Vật Liệu&Xây Dựng năm 2002, đem tiền dành dụm 40 năm ở Nhật, trả tiền mua 125 m2 đất với giá 526 triệu đồng (4.5 triệu USD). Chờ đợi mãi sau một năm mà không thấy giấy chứng nhận được quyền xử dụng đất đâu cả. Bà vợ Trần Thị Ánh Xuân, làm đơn kiện UBND quận Gò Vấp. Năm 2005, Ủy ban điều tra Bộ Tài Nguyên Môi Trường kết luận UBND/Gò Vấp sai phạm. Nhưng từ đó đến nay, nhiều lần kể công về phục vụ quê hương, nhưng chẳng thấy trả lời, trả vốn gì cả. Té ra, mấy ảnh trên quận chẳng coi Việt kiều ra cái thớ gì cả. Ngậm bồ hòn khen ngọt lắm. Sáng mắt ra nhưng đã trễ. Những thái độ đó đã làm cho trí thức chân chính trong nước xem thường ra mặt.

2.4. Chiêu bài thống nhất đất nước

Việt Cộng và bọn tay sai dùng chiêu bài "thống nhất đất nước" để đánh bóng đảng CSVN. Xin trích như sau:

"Sự thật là sau ngày chiến thắng 30 tháng 4, 1975 thì một loạt sự kiện lịch sử ra đời, đánh dấu sự thống nhất nước nhà. Đó là Việt Nam có một nhà nước thống nhất, bao gồm một Quốc Hội thống nhất, một chính phủ thống nhất, có cơ cấu tổ chức chính quyền các cấp thống nhất cả nước, nói chung có cơ cấu hệ thống chính trị các cấp thống nhất cả nước, có nền giáo dục thống nhất cả nước, có nền y tế thống nhất cả nước, cả nước có đồng tiền chung và một thị trường thống nhất, người Việt Nam đi lại tự do trên toàn cõi Việt Nam… Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày hội của toàn dân đoàn kết, "chiến thắng". (Người nói câu nầy là thằng Việt Cộng, vì nó "chiến thắng" ) Có một số người trong ngụy quân ngụy quyền, trong đó có số nợ máu với nhân dân, thậm chí đã có tội ác tày trời, đã được tổ chức học tập, cải tạo, nhằm khêu gợi lòng yêu nước, tình đồng bào, nghĩa dân tộc, biết phân biệt chính nghĩa và phi nghĩa, trở lại cuộc sống có đạo lý, có nhân phẩm, làm ăn lương thiện, trở thành công dân của nước Việt Nam mới, thống nhất (bản văn trên báo Người Việt ngày 5-7-2012* ngừng trích).

Lời tuyên truyền nầy lưu manh hết cỡ thợ mộc!

Những con vẹt, những cái loa rè chỉ lập đi lập lại theo một bài bản tuyên truyền cũ rích, mà bọn chúng không biết, không hiểu hoặc không muốn hiểu, "Thống nhất đất nước để làm gì?

Hãy nghe tên Phạm Văn Đồng nói mục đích của việc thống nhất đây nè:

Ngày 1-5-1975, trong bài diễn văn, hắn tuyên bố: "Thống nhất để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ Nghĩa Xã Hội. Việt Nam là lá cờ đầu, là đội quân tiên phong tiến hành cuộc Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa trên thế giới".

Tóm tắt. Thống nhất để tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội! Một chế độ độc tài tàn bạo nhất lịch sử loài người, đã giết trên 100 triệu đồng bào của mình.

Thế bọn con vẹt có biết CNXH là gì không? Hãy nghe những tên dốt nói: "Xã Hội Chủ Nghĩa là một chế độ ưu việt, trong đó không còn cảnh người bóc lột người. Một xã hội mà của cải vật chất thừa mứa, mọi người làm việc theo khả năng mà được hưởng theo nhu cầu.".

Tội nghiệp cho người dân miền Bắc XHCN, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, trông mòn con mắt mà không thấy CNXH theo như bọn dốt tuyên truyền, của cải vật chất dư thừa như thế nào nữa. Nói tầm bậy, nói tào lao mà cũng có nhiều người "hay chữ" tin tưởng cuồng nhiệt.

CNXH ưu việt đến nỗi phải ăn bo bo gần trẹo quay hàm, nên phải "đổi mới theo cũ", tức là theo cái khuôn mẫu kinh tế thị trường của VNCH trước 1975. Đổi mới theo cũ rồi phải "mở cửa". Mở cửa để xuất khẩu lao nô, để đưa phụ nữ đi làm Osin, làm vợ mấy thằng bần cố nông nghèo mạt rệp không đủ tiền cưới vợ người bản xứ ở Đài Loan, Nam Hàn…, nên tìm đến thị trường ế hàng ở VN.

Tội ác của CNCS thì nói hoài không hết, chỉ cần nhớ 100 triệu nạn nhân chết vì nó cũng đủ rồi.

Nói về thống nhất đất nước. Tại sao Đài Loan, Hồng Kông, Nam Hàn không muốn thống nhất về với Hoa Lục, về với Bắc Hàn? Thống nhất theo kiểu nước Đức thì OK. Có nghĩa là phải dẹp bỏ cái "chế độ ưu việt" đó đi.

Đến thế kỷ 21 rồi mà còn tuyên truyền theo cái kiểu của hồi 75 thì bết quá. Nếu Người Việt muốn tuyên truyền hoặc VC muốn tuyên truyền, thì nên chọn những con người không bị khuyết tật về tâm thần, kiến thức nông đến như thế.

3* Ai làm tay sai cho đế quốc đây?

Báo Người Việt đăng tải: "…chỉ có đội quân xâm lược Mỹ và bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ là thất thủ".

Việt Nam Cộng Hoà thất thủ thì đúng. Nhưng bè lũ tay sai đế quốc chính là Hồ Chí Minh và đảng CSVN.

Sự thật rõ ràng, về lý lịch cá nhân, thì HCM là "người Nga gốc Việt", được Liên Xô giáo dục, đào tạo, làm việc và ăn tiền của Đệ tam Quốc tế Cộng Sản. HCM là rể của Trung Cộng, vợ là y tá Trung Cộng Tăng Tuyết Minh. Hắn sống như thế, cho đến chết cũng muốn được về với ông cố tổ là hai thằng Tây râu rìa và trán sói.

Cái tinh thần nô lệ ngoại bang được thể hiện qua câu nâng bi khẳng định như sau: "Các cô chú nên nhớ điều nầy, ai có thể sai, nhưng Bác Staline, Bác Mao thì không bao giờ sai cả". Bây giờ mới lòi ra cái nói dóc và bịp bợm.

Người dân miền Bắc XHCN nhà nhà đều phải treo hình con heo nọc Mao Trạch Đông và 2 thằng Tây râu rìa và trán sói.

Tố Hữu nhìn nhận "Bên nây biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương". Quê hương ông cố tổ của hắn thôi.

Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xích Ta Linh bất diệt" (Văn nô Tố Hữu)

…Ông Xích ta Linh, ông Xích Ta Linh
Thương cha, thương mẹ thương hồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười".
Có thể xếp hạng nâng bi cao cấp.

Kẻ bán nước, ôm chân đế quốc chính là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Bán nước có văn tự, có giấy tờ (công hàm) ký ngày 14-9-1958.

Bằng chứng cụ thể không thể chối cãi được. Trả lời câu hỏi trên, thì dứt khoát là Hồ Chí Minh và đảng CSVN là tay sai, ôm chân đế quốc Liên Xô và bán nước cho Trung Cộng.

5* Những kỹ thuật đánh phá tinh vi của Việt Cộng nằm vùng

5.1. Lợi dụng tự do

Tự do nào cũng có hạn chế cả. Tự do của một cá nhân không thể xâm phạm danh dự và tự do của người khác, của tập thể và cộng đồng. Luật pháp cũng hạn chế tự do vì an ninh quốc gia, thuần phong mỹ tục.

Bọn tay sai nằm vùng nêu lý do rằng, CS nó độc tài nên nó xấu, trái lại người Việt tỵ nạn ở quốc gia tự do, phải chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt chính kiến, chấp nhận tự do ngôn luận, nếu không thì cũng xấu như CS trong nước vậy.

Đó là lý luận ngụy biện. Vì cộng đồng người Việt tỵ nạn CS không phải là một chế độ hay là một nhà nước, mà là một phong trào đang ở trên mặt trận đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền, và đang bị tay sai nằm vùng tấn công đánh phá về mọi mặt, mà bọn nằm vùng thì vô cùng gian trá, xảo quyệt.

VC chính cống và công khai như những nhân viên của các cơ sở ngoại giao thì không có gì đáng nói, điều đáng chú ý là những người mà ông Huỳnh Quốc Bình cho rằng : "Ban ngày thì vỗ ngực nhận mình là người "quốc gia" hô hào chống cộng, nhưng tối về thì "chăn gối với kẻ thù". Đó là trường hợp của cha nội Chủ tịch Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa quốc gia ở thành phố Houston, mà tên VC Nguyễn Đình Bin xác nhận đã cùng Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, Đỗ Ngọc Yến đã họp mặt năm 2003 để phổ biến chủ trương của đảng về công tác Người Việt Ở Nước Ngoài.

5.2. Tự do trong đời sống thực tế

Hãy thử tưởng tượng, một người mặc áo thun có in hình của Hitler với hình Chữ Vạn của Đức Quốc Xã, đi vào nước Do Thái, thì sẽ được đối xử như thế nào? Cũng thế, mang hình 3 chữ KKK đi vào khu người da đen sẽ như thế nào?. Mang hình HCM với lá cờ máu của VC mà đi vào khu phố Bolsa, hay mang hình Bin Laden đi vào khu vực toà tháp đôi ở New York hoặc vào cửa an ninh ở phi trường để lên máy bay, thì có được cư xử tử tế không? Hay là mang hình cờ VNCH về phi trường Tân Sơn Nhất, hoặc mang khẩu hiệu "Hoàng Sa-Trường Sa là của VN", mà đi dạo Hồ Gươm thì sẽ ra sao?

6* Công thức đánh phá khá tinh vi

Có người nêu cái công thức: "10=5+3+2" và giải thích rằng, ví dụ như trong một đoạn văn có 10 câu.

- Dùng 5 câu để chỉ trích VC. Chỉ trích những sự thật ai ai cũng biết, có chỉ trích hay binh vực cũng không có tác dụng gì. Ví dụ như chỉ trích chế độ CS độc tài, không có tự do.

- Dùng 3 câu đánh phá VNCH.

- Dùng 2 câu nhẹ nhàng kín đáo ca tụng Hồ Chí Minh và CSVN.

Một thí dụ điển hình, như trong một cuộc triển lãm có 10 bức tranh.

- Dùng 5 bức để tả cảnh các thuyền nhân vượt biển, đời sống vất vả trong trại tỵ nạn. Đó là sự thật ai ai cũng biết, chỉ trích phê bình cũng không có ăn nhậu gì gì cả.

- Dùng 3 bức tranh đánh phá cờ Vàng, bằng hình lá cờ mà 3 sọc đỏ có viền kẽm gai.

- Dùng 2 bức tranh, 1 tượng HCM với vòng hoa dâng tặng, thể hiện sự chiến thắng được hoan nghênh, như các thiếu nữ choàng vòng hoa chiến thắng cho các binh sĩ có chiến công. Một bức tranh hình một người mang cờ VC trước ngực.

Đó là công thức tuyên truyền tinh vi: 10=5+3+2, nếu khán giả không có cái nhìn tổng hợp, thì không thấy được ý đồ của người thợ vẽ.

7* Chiêu bài tự do sáng tạo của người nghệ sĩ

Bức hình cái chậu rửa chân trên báo Xuân Mậu Tý (2008) của báo Người Việt, hình lá cờ VNCH nằm trong cái chậu đựng nước dơ của tiệm Nail, không có một giá trị nghệ thuật nào cả, mà cái chậu cũng không mang một ý nghĩa tượng trưng nào cả, thế mà người binh vực thì cho rằng, nhìn qua cái chậu đó, ông ta chỉ thấy tấm lòng hy sinh cao cả của một bà mẹ chồng làm việc vất vả nuôi con ăn học. Tấm hình cái chậu nước dơ mà thể hiện tấm lòng bà mẹ chồng thì hết nước nói đối với cha nội nầy rồi.

Bà Trần Thị Hồng Sương, đại biểu quốc hội VC thuộc đơn vị Cần Thơ, nhận xét về vụ cái chậu trong bài viết của bà trên báo đề ngày 25-3-2008, nguyên văn như sau: "Với phản ứng quyết liệt của cộng đồng, cô sẽ bị loại bỏ như Trần Trường, vì CS không dại gì va vào ổ kiến lửa. Cô sẽ rất khó khăn khi bị cộng đồng và CS sa thải!

"Tôi tán đồng quan điểm "Bảo vệ quyền sáng tạo của nghệ sĩ để làm nên một cuộc sống" (Protect Creative Artists Right to Make a Living-Eric Green). Rất tiếc, cô không được hưởng điều đó, vì bài viết của cô (trên báo Người Việt) không có sự thật, tư duy lệch lạc, sản phẩm trưng bày cho bạn đọc, cùng xem (cái chậu rửa chân) của cô không có một chút sáng tạo nào cả, ngoài việc thể hiện sự thù ghét, bài xích lá cờ VNCH.

Huỳnh Thủy Châu có một quá khứ ngộ nhận và tài năng không trung thực, nên cô đã không vói tới cái tương lai, dù có cơ hội tốt". Trần Thị Hồng Sương (25-3-2008)

8* Người cầm bút nên phục vụ công lý và chính nghĩa

Ngày thứ sáu 20-7-2012, trên trang BBC, nhà báo tự do Bùi Văn Phú viết:

"Vài năm qua, một vài thử thách về cách "đưa ra những quan điểm khác biệt" trên mặt báo này đã gây ra chuyện chà đạp lên quyền tự do báo chí.

Tự do báo chí ở đây là phản ánh những "quan điểm trái nghịch trên mặt báo" và quyền bảo vệ ký giả, bảo vệ nguồn tin. Trong một xã hội tự do, dân chủ, người làm báo cũng như người dân trân trọng sự tự do này, cho dù những quan điểm đưa ra nghe rất chói tai, nhức óc." (ngưng trích).

Người cầm bút hay cầm cọ cần phải có khả năng, trình độ nhận thức và lương tâm, để biết phân biệt "thị phi, phải trái, trắng đen" mà phục vụ cho công lý và chính nghĩa, quyền lợi của dân tộc, của cộng đồng mà mình đang sống.

Lạm dụng tự do ngôn luận để đưa ra những "quan điểm khác biệt", ca ngợi bạo quyền, độc tài, tàn bạo, ca ngợi kẻ thù của dân tộc, đang có hành động cướp đất, cướp tài nguyên biển của dân tộc, đó là không có lương tâm, mà chữ nho gọi là bất lương.

Nhà báo tự do thử viết bài nêu "quan điểm trái nghịch trên mặt báo", ca ngợi Al Qaeda, Bin Laden hay cổ võ tên sát nhân James E. Holmes ở rạp chiếu bóng Century 16, thành phố Aurora, Colorado, để xem quyền tự do ngôn luận của mình sẽ được đối xử ra sao?

Những kẻ không biết việc CSVN chiếm miền Nam để đưa cả nước vào chế độ độc tài Cộng Sản là những kẻ thiếu chữ trí, hay gọi là mất trí, mà bình dân thường cho là điên khùng. Từ trí thức trở thành điên khùng cũng không có gì lạ, bởi vì nó nhan nhản như rươi.

Trường hợp báo Người Việt, theo như "nhà báo tự do", nếu như tờ báo N.V. hạ lá cờ VNCH trước toà báo xuống, rút lại lời cam kết trong lá thơ xin lỗi ngày 12-7-2012 : "Chúng tôi sẽ cố gắng có thêm biện pháp ngăn ngừa những sai lầm như vậy trong tương lai, "tiếp tục cùng toàn thể đồng bào đấu tranh xóa bỏ chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do.", rồi tiếp tục nêu "ý kiến trái nghịch", tiếp tục cho rằng VNCH là bè lũ tay sai của Mỹ, thì luật pháp cũng chả dám đụng chạm tới cộng lông nào của những người có trách nhiệm cả. Nhưng muốn được an toàn, thì nên cuốn gói về gia nhập với 700 cơ quan truyền thông trong nước, Trần Trường là một điển hình.

Ví dụ trên đây để trả lời "nhà báo tự do" trên BBC.

Trái lại, thì đúng như lời ông Huỳnh Quốc Bình đã viết :"Ban ngày thì vỗ ngực nhận mình là người "quốc gia", hô hào chống Cộng, tối về thì chăn gối với kẻ thù".

9* Kết

Kỹ thuật tuyên truyền và đánh phá của VC rất tinh vi, nhất là cái đám tay sai thực hiện rất cao cấp và ấn tượng.

Trước hết, gợi tình yêu quê hương, tình tự dân tộc của người Việt xa xứ, nhớ quê nhà. Bắt đầu bằng những bài viết ca ngợi cảnh đẹp quê hương, trái cây, thức ăn quê hương, những kỷ niệm thời học sinh…rồi khuyến khích về thăm quê hương, khoe khoang sự tiến bộ, sự thay đổi. Người Việt trở về Mỹ ca ngợi, bây giờ đất nước đổi mới tiến bộ dữ dội lắm. Người dân có tiền nhiều lắm. Ca ngợi quê hương mình là chính đáng, nhưng mục đích tiếp tay thi hành Nghị Quyết 36 là tay sai cho Việt Cộng.

Về văn hoá. Chuẩn bị chương trình dạy tiếng Việt, cho đoàn văn công Duyên dáng VN ra nước ngoài, chỉ hát những bài tình ca dân tộc, quê hương. Tổ chức "giao lưu văn hoá, đám cò mồi hải ngoại viết bài ca ngợi hết lời, về cái phong cách trình diễn của ca sĩ trong nước. Về chiến thuật, ban đầu cho nhóm "tiền sát", là những ca sĩ không có dính dáng gì tới đảng và nhà nước, đến Hoa Kỳ để thăm dò phản ứng…rồi thực hiện những bước kế tiếp. Vì bị phản đối, nên kế hoạch văn hoá vận "Duyên Dáng Việt Nam" không thực hiện được ở Cali.

Việt kiều yêu nước thực hiện kế hoạch rất tinh vi. Trong cộng đồng người Việt tỵ nạn thì có một số người dễ tin và mau quên, đó là cái nhức nhối của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Trúc Giang
Minnesota ngày 27-7-2012

Qua sử chí Trung Quốc, thử tìm hiểu vùng biển giáp giới hai nước Việt Trung


Hồ Bạch Thảo

Dưới thời Nguyên, Trung Quốc mang binh thuyền tấn công Nhật Bản bị thất bại ; thời Vĩnh Lạc triều Minh, hạm đội của Trịnh Hòa dương oai tại vùng Ðông Nam Á, việc làm chỉ được tiếng, nhưng tốn kém quá nhiều, có lần bị giết 170 người tại Trảo Oa [Java] 1, nên cuối cùng đến đời Tuyên Ðức chương trình này đành phải dẹp bỏ. Suốt hai triều đại Minh, Thanh ; quân Nhật [Nụy] thao túng cướp phá vùng biển, Trung Quốc chỉ phòng thủ trên bờ và ven biển cũng không xong, nên không màng đến biển cả. Bằng cớ ngay cảc đảo lớn giàu tài nguyên như Ðài Loan, Bành Hồ, được liệt vào ngoại quốc trong Minh Sử 2 ! Biển lúc bấy giờ là mối hệ lụy, nên Trung Quốc chủ trương phòng thủ thụ động trên bờ, bỏ mặc đại dương không chiếu cố đến. Sách lược này được phản ảnh một cách cụ thể trong trường hợp viên Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang xin chế tạo nhiều thuyền để ra biển bắt cướp ; bị vua Gia Khánh bác và khẳng định quốc sách là phòng thủ tại cảng và truy lùng những người trên bờ ngầm mua bán hợp tác với bọn cướp :

Ngày 2 Kỷ Tỵ tháng 12 năm Gia Khánh thứ 12 [30/12/1807]

...Còn trong tấu triệp Ngô Hùng Quang trình bày rằng " Thuyền cướp qua lại đợi chờ mới liên lạc được với bọn gian trên bờ, nếu thuyền binh khẩn trương theo tung tích truy nã, thì bọn chúng không thi thố được thủ đoạn. Vậy muốn ngăn tiếp tế, nên tu tạo nhiều thuyền, xuất dương truy bắt."

"Ðiều này không đúng, về bọn cướp biển, gạo, nước, thuốc súng đều nhờ vào trên bộ. Bọn giặc trên bờ và dưới nước vốn quen nhau, ngầm giao dịch, cũng không phải chờ bọn cướp biển lên bờ tìm kiếm mới được tiếp tế. Tổng chi, đáng ra lệnh các quan văn võ tại cửa biển mật cho tuần tra, nghiêm bắt, trừng trị nặng ; bọn phỉ trên bờ co rút lại, thì mới đoạn tuyệt việc tiếp tế.

Nếu làm theo lời tâu, chế tạo nhiều thuyền bè, xuất dương đánh bắt, theo sát gót tung tích thuyền cướp, không để cho chúng nhàn rỗi hoành hành. Nhưng không biết rằng trên đại dương có bao nhiêu thuyền cướp để theo bén gót, vả lại trên biển dòng nước bất đồng, gió bão không định, khó mà ra lệnh thuyền nào của ta theo dõi thuyền nào của giặc cướp. Hãy suy nghĩ nếu bọn giặc biển không biết bọn phỉ trên cạn, đột nhiên đến mua nước, gạo, thuốc súng, thì ai mà bán cho. Ðiều đó khẳng định rằng việc cấm bọn phỉ tiếp tế tất phải nghiêm tra trên bờ, làm vững rào dậu là biện pháp chính. Phúc Kiến nghiêm cấm tiếp tế tại cửa biển, thực hiện hữu hiệu, tỉnh Quảng Ðông cần nhất luật thực hiện…" (Nhân Tông Thực Lục quyển 189, trang 7)


Cùng đề cao sách lược phòng thủ thụ động nơi ven biển, tại quyển 9, Hải Phòng, trong Quảng Ðông Thông Chí, Tổng đốc Hác Ngọc Lân tóm tắt :

" Phàm thuyền đến không cho đậu, đi không tiếp tế ; thì dân chúng duyên hải đều được yên gối mà ngủ."

Với chính sách về biển như vậy, nên từ triều Thanh trở về trước, tại biển nam, Trung Quốc giới hạn vùng lãnh hải gần bờ ; nhường phần còn lại cho An Nam, để nước này cáng đáng việc đánh bắt cướp biển ngoài khơi. Cũng trong quyển 9, Quảng Ðông Thông Chí, có đoạn chép về giới hạn biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, nguyên văn như sau :

xungyeu

Xung yếu :

Từ huyện Lạc Hội, phủ Quỳnh Châu, khởi đầu tiếp giáp với biên giới [biển] An Nam :

- Vũng Hải Ðiều : giới hạn huyện Văn Xương

- Cảng Phố Tiền : giới hạn huyện Hội Ðồng

- Cảng Thần Ứng : giới hạn phủ Quỳnh Châu

- Phố Phong Doanh : giới hạn phủ Quỳnh Châu

- Phố Ma Ðầu : giới hạn huyện Lâm Cao

- Phố Cung Loan : giới hạn huyện Lâm Cao

- Loan Ðiền Hòa : Giới hạn châu Ðam

- Núi Nga Trá : giới hạn huyện Xương Hóa

- Doanh Bạch Sa : giới hạn huyện Cảm Ân

- Ðại Ðộng Thiên : giới hạn châu Nhai

- Tiểu Ðộng Thiên : giới hạn châu Nhai

- Vũng Nha Lang : giới hạn huyện Lăng thủy

- Cửa Song Châu : giới hạn huyện Lăng Thủy

- Thất Thập Nhị kính : giới hạn châu Khâm

- Nha Sơn : giới hạn châu Khâm

- Ðạm Thủy Loan : giới hạn châu Khâm

- Doanh Cách Mộc : giới hạn huyện Linh Sơn

- Núi Ô Lôi : giới hạn huyện Linh Sơn

- Ao Thanh Anh : giới hạn phủ Liêm Châu

- Ao Dương Mai : giới hạn phủ Liêm Châu

- Ao Bình Giang : giới hạn phủ Liêm Châu

- Thiệu Châu : giới hạn sở Vĩnh An

- Mão Châu : giới hạn sở Hải An

- Vi Châu : giới hạn sở Cẩm Nang


Sau đây xin tìm hiểu từng địa danh, trình bày theo trình tự từ gần đến xa, tức từ hướng tây sang đông :


1. Thất thập nhị kính : giới hạn châu Khâm

Ðại Thanh Nhất Thống Chí 3 xác nhận Thất Thập Nhị Kính là 72 đường thủy chạy quanh co tại Long Môn :

Ngoài Long Môn quần sơn nhấp nhô, chia biển ra thành 72 đường thủy đạo, theo núi quanh co, đường nọ với đường kia có thể thông nhau, người đời thường gọi " Long Môn thất thập nhị kính " là tại đây.

Bản đồ Google phóng lớn ghi vị trí Long Môn Cảng Trấn, tại tọa độ 21.726334,108.57170 (Quý vị chưa quen, xin chép dãy số bên cạnh, mở Google map, chép vào ô chữ nhật, rồi gõ vào hình mặt kính ô màu bên phải, thì sẽ thấy vị trí trên bản đồ). Qua lời tâu dưới đây của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trần Ðại Thụ thời Càn Long, cũng xác nhận vùng Long Môn, châu Khâm, giáp với biển Bạch Long Vĩ nước ta :

Ngày 30 Tân Mùi tháng 5 năm Càn Long thứ 15 [3/7/1750]

Tổng đốc Lưỡng Quảng Trần Ðại Thụ tâu :

" Vùng Long Môn, Khâm Châu Quảng Ðông giáp giới với biển Bạch Long Vĩ, thuộc An Nam. Thuyền buôn nội địa [Trung Quốc] qua lại gặp những sự cố, hoặc những lính tráng đào ngũ trốn tránh tại nơi đây, ta cho là biển của nước Di, nên từ chối không phòng ngự… Nhận được chiếu chỉ :

" Ðiều thấy đúng, đã hiểu rõ." (Cao Tông Thực Lục quyển 365, trang 34)

Cũng cần lưu ý rằng địa danh Bạch Long Vĩ là một doi đất nhô ra biển, giống như đuôi rồng, tại tọa độ 21.49588,108.230438, chứ không phải là đảo Bạch Long vĩ. Vùng đất ven biển này và cả khu Giang Bình, Hoàng Trúc ; do người Pháp nhường cho nhà Thanh sau hòa ước Thiên Tân năm 1885 ; vua Quang Tự xác nhận việc nhường đất qua văn bản dưới đây :

Ngày 26 Ðinh Vị tháng 4 năm Quang Tự thứ 14 [5/6/1888]

Dụ các Quân cơ đại thần :

….Ðịa phương châu Khâm rộng rãi, lần này định biên giới, Ðại thần họ Vương 4 thuộc Tổng lý các quốc sự vụ nha môn cùng Sứ thần Pháp qua lại biện luận, mới đem các xứ Bạch Long Vĩ, Hoàng Trúc, Giang Bình nhất luật đưa về Trung Quốc ; từ nay về sau chốn hiểm yếu, đặt việc phòng thủ rất quan trọng... (Ðức Tông Thực Lục quyển 254, trang 14-15)


2. Nha Sơn : giới hạn châu Khâm

Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí 5 cho biết Nha sơn cách Long Môn 34 km về phía đông :

Núi Nha Sơn [牙山島] : núi ở ngoài biển, phía đông cách Long Môn 60 lý [34 km] ; giữa biển nhô lên 3 ngọn núi, chiều ngang hàng chục lý, hình như 3 chiếc răng. Gần Nha Sơn 20 lý [11.6 km] có mũi Kim Cổ, phía đông có vũng Ô Lôi, phía tây có núi Mã Yên, đều là cảng, có thể đậu thuyền ngoài biển.

Qua bản đồ Google thấy hình dáng Nha Sơn như 3 chiếc răng chìa ra biển, tại tọa độ 21.701934,108.622856


3. Ðạm Thủy Loan : giới hạn châu Khâm

Bản đồ Google xác nhận Ðạm Thủy Loan hình giống đường vạch chìa ra biển, tại tọa độ 21.719477,108.651695


4. Doanh Cách Mộc : giới hạn huyện Linh Sơn

Vị trí doanh Cách Mộc, không rõ ; tuy nhiên huyện Linh Sơn tại phía đông châu Khâm.


5. Núi Ô Lôi : giới hạn huyện Linh Sơn

Ðại Thanh Nhất Thống Chí chép về Ô Lôi lãnh như sau :

Ô Lôi lãnh : phía đông nam châu Khâm 160 lý [92 km], còn có tên là Ô Lôi môn, nhô lên từ biển ; vì vị trí hiểm trở nên được đặt binh phòng giữ. Theo Châu Chí mạch núi từ núi Na Mộ chạy quanh co tạo thành Thập Nhị lãnh rồi ra biển, qua trước miếu Phục Ba, thủy trình vào phủ Liêm Châu qua đây.

Trên bản đồ Google hiện có Ô Lôi thôn, là một bán đảo tại tọa độ 21.613707,108.735981


6. Ao Thanh Anh : giới hạn phủ Liêm Châu

Dưới thời Minh, tác phẩm Trù Hải Ðồ Biên của Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, còn lưu lại một số bản đồ duyên hài, trong đó có bản đồ vùng biển châu Khâm. Tại bản đồ này, cũng ghi lại các địa danh được đề cập ở trên như : Thất Thập Nhị Kính [-3-], Nha Sơn [-4-], Ô Lôi Sơn [-5-]. Ngoài ra còn ghi vị trí Thanh Anh trì tại [-6-], đây là ao nuôi ngọc trai ngoài biển. Cần lưu ý, phương pháp thể hiện bản đồ Hồ Tôn Hiến trái ngược với bản đồ ngày nay ; ở chỗ phía trên chỉ hướng nam, phía trái chỉ hướng đông và tỷ lệ xích cũng không hoàn toàn chính xác ; tuy nhiên đây là tác phẩm cổ trên 500 năm về trước, cũng cần được tham khảo. Bản đồ Google không ghi ao Thanh Anh, xin suy ra từ bản đồ Hồ Tôn Hiến để tạm chấm tọa độ : 21.601258,108.802414


Bản đồ vùng biển châu Khâm của Hồ Tôn Hiến :

bdhth

Phiên âm tên các đảo và địa danh cần lưu ý :

- 1. Ðại Lộc Ðôn.

- 2. Tiểu Lộc Ðôn

- 3. Thất Thập Nhất Kính

- 4. Nha Sơn

- 5. Ô Lôi Sơn

- 6. Thanh Anh Trì

- 7. Vùng biên giới nước An Nam

- 8. Thành châu Khâm


7. Ao Dương Mai : giới hạn phủ Liêm Châu

Trên bản đồ vùng biển châu Liêm của Tổng đốc Hồ Tôn Hiến có ghi nhận hồ ngọc trai Dương Mai trì tại [-1-] (còn gọi là Dương Hải trì). Riêng bản đồ Google không chép, suy ra từ bản đồ Hồ Tôn Hiến tạm chấm tọa độ : 21.611472,108.850479


8. Ao Bình Giang : giới hạn phủ Liêm Châu

Bản đồ Hồ Tôn Hiến ghi Bình Giang Trì tại [-4-], riêng Google không ghi, căn cứ Hồ Tôn Hiến tạm chấm tọa độ 21.610196,108.904724


9. Thiệu châu : giới hạn sở Vĩnh An

Bản đồ Hồ Tôn Hiến ghi Thiệu Châu tại [-6-], riêng Google không ghi, nên căn cứ Hồ Tôn Hiến tạm chấm tọa độ 21.582104,108.980255


10. Mão châu : giới hạn sở Hải An

Bản đồ Hồ Tôn Hiến ghi Mão châu tại [-7-], riêng Google không ghi, nên căn cứ Hồ Tôn Hiến tạm chấm tọa độ 21.59232,109.049606


Bản đồ vùng biển phủ Liêm Châu của Hồ Tôn Hiến :

liemchau

Phiên âm tên các đảo và địa danh cần lưu ý :

- 1. Dương Mai Trì

- 2. Xà Sơn

- 3. Xà Dương Châu

- 4. Bình Hà Trì

- 5. Châu Mẫu Hải

- 6. Thiệu Châu

- 7. Mão Châu

- 8. Liêm Châu Phủ


11. Vi Châu : giới hạn sở Cẩm Nang

Quảng Ðông Thông Chí xác nhận đảo Vi Châu, tại sở Cẩm Nang, giáp giới với biển Việt Nam. Ðảo này vị trí tại phía nam huyện thành Hợp Phố khoảng 200 lý, chu vi 70 lý ; xưa là sào huyệt giặc cướp, đời Minh Vạn Lịch di dân đến canh tác 6.

Thanh Thực Lục cũng xác nhận thêm Vi Châu là cửa ngõ của 3 phủ Cao Châu, Lôi Châu, Quỳnh Châu ; mặt phía tây thuộc biển Việt Nam :

Ngày 18 tháng 3 năm Ðạo Quang thứ 13 [9/3/1833]

…Lại căn cứ theo Cao Nghi Dõng khám xét biển phía đông nam Long Dương, thuộc 3 phủ Cao, Lôi, Quỳnh, trong đó có đảo Vi Châu làm cửa ngõ, mặt phía tây thuộc Việt Nam, thuyền cướp thường trốn tại núi Cẩu Ðầu ; cần phải chặn việc tiếp tế lương thực, thuốc súng ; ngăn con đường vượt biên giới ăn cướp. Lại dò biết thuyền cướp có hơn 1 chục chiếc, trốn tránh xa tại châu Giáp, núi Cẩu Ðầu thuộc đất Di [Việt Nam], quân ta không quen đường cát, khó có thể đi xa. Ðáng phải thông báo cho Việt Nam, xua đuổi ra đánh. Duy cương vực Hoa, Di có phân biệt, phải biết rõ tình hình, thì mới có thể đánh bắt không để sót... (Tuyên Tông Thực Lục, quyển 230, trang 6- 8)

Riêng bản đồ Google ghi nhận Vi Châu đảo tại tọa độ 21.046695,109.117584


12. Vũng Hải Ðiều : giới hạn huyện Văn Xương

Bản đồ Google không ghi vũng Hải Ðiều, riêng Văn Xương thị thuộc tỉnh Hải Nam, tọa độ 19.538437,110.807419


13. Cảng Phố Tiền : giới hạn huyện Hội Ðồng

Ðại Thanh Nhất Thống Chí 7 xác nhận cảng Phố Tiền tại phía bắc huyện Văn Xương 150 lý :

Cảng Phố Tiền : tại phía tây bắc huyện Văn Xương 150 lý [87 km], sông từ huyện Quỳnh Sơn chảy đến hợp với sông Tam giang để ra biển. thương thuyền tập trung nơi đây tạo thành nơi yết hầu của huyện.

Riêng bản đồ Google ghi nhận Phố Tiền cảng tại tọa độ 20.042386,110.510101


14. Cảng Thần Ứng : giới hạn phủ Quỳnh Châu

Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí 8 xác định vị trí cảng cách huyện Quỳnh Châu 10 lý về phía bắc :

Cảng Thần Ứng : tại phía bắc huyện Quỳnh Châu 10 lý [5.8 km], còn có tên là cửa khẩu Bạch Sa. Dư Ðịa Kỷ Thắng chép bến Bạch Sa tại huyện Quỳnh Châu thuyền các nước Phiên tụ tập ; bờ biển khuất khúc thuyền lớn không thông. Vào thời Kiến Viêm soái xứ Quỳnh Châu là Nghiêm Quang Tổ cho khai cảng để tiện việc buôn bán, cảng tuy mở nhưng cát lại lấp ; vào năm Thuần Hy Mậu Thân, một trận cuồng phong xẩy ra, tạo thành cảng lớn hơn trước, nên có tên là cảng Thần Ứng.

Google không ghi vị trí cảng Thần Ứng, nhưng có ghi Quỳnh Sơn khu tại tọa độ 19.991417,110.348053


15. Phố Phong Doanh : giới hạn phủ Quỳnh Châu

Không rõ vị trí.


16. Phố Ma Ðầu : giới hạn huyện Lâm Cao

Không rõ phố Ma Ðầu, tuy nhiên Google ghi nhận vị trí Lâm Cao huyện tại tọa độ 19.915257,109.706726


17. Phố Cung Loan : giới hạn huyện Lâm Cao

Không rõ vị trí.


18. Ðiền Hòa loan : giới hạn châu Ðam

Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí 9 chép là cảng Hòa Ðiền, tại phía bắc châu Ðam 45 lý :

Cảng Hòa Ðiền : tại phía bắc châu Ðam 45 lý [26 km] ; lại có cảng Nga Man tại phía bắc châu 40 lý [23 km], tại đó có 36 khe, khi thủy triều lên thì nước tràn ngập, khi thủy triều xuống thì nước khe chảy ra trong vắt. Lại có cảng Hoàng Sa tại phía tây bắc châu 40 lý [23 km], gần với cảng Nam Khê. Châu Chí chép trong châu có hàng chục cảng, nhưng tại Hòa Ðiền bị giặc cướp quấy nhiễu nhiều, vì từ Lâm Cao xuống chỉ có cảng này có thể lấy được nước nhưng không có thành đá để ngăn, lại còn cách xa châu lỵ.

Riêng bản đồ Google không ghi cảng Ðiền Hòa, nhưng xác nhận Ðam Châu cảng tại tọa độ 19.726635,109.285126


19. Núi Nga Trá : giới hạn huyện Xương Hóa

Bản đồ Google không ghi núi Nga Trá, nhưng xác nhận cảng Xương Hóa tại tọa độ 19.326695,108.646545


20. Doanh Bạch Sa : giới hạn huyện Cảm Ân


Bản đồ Google không ghi doanh Bạch Sa, nhưng xác nhận Cảm Thành trấn tại tọa độ 18.848787,108.631439


21. Ðại Ðộng Thiên, Tiểu Ðộng Thiên : giới hạn châu Nhai

Tại vùng châu Nhai, gần Tam Á, Google ghi nhận địa danh Ðại Tiểu Ðộng Thiên tại tọa độ 18.293906,109.150887. Ngoài ra một đạo dụ của vua Ðạo Quang trong Thanh Thực Lục, xác nhận rằng bãi Ðồi Mồi [Ðại Mạo châu] thuộc vùng Tam Á, châu Nhai, gần Ðại Ðộng Thiên, tiếp giáp với biển Việt Nam :

Ngày 30 Nhâm Dần tháng 11 năm Ðạo Quang thứ 12 [20/1/1833]

Lại dụ :

... Lại cứ Lý Tăng Giới xưng rằng bọn Phó tướng Lý Hiền tuần tiễu đến bãi Ðại Mạo [đồi mồi] vùng biển ngoài Nhai Châu, Tam Á, chỗ này tiếp giáp với biển Di Việt Nam, thấy 3 thuyền phỉ, mỗi thuyền 1, 2 ngàn người, bèn cho đuổi bắt... (Tuyên Tông Thực Lục quyển 226, trang 28- 30)


22. Vũng Nha Lang, cửa Song Châu : giới hạn huyện Lăng Thủy

Bản đồ Google không ghi vũng Nha Lang, cửa Song Châu ; nhưng ghi nhận huyện tự trị Lăng Thủy Lê tộc tại tọa độ 18.49654,110.069275

Không kể vùng biển gần các phủ Liêm Châu và Quỳnh Châu được đề cập ở trên, những biển xa như quần đảo Hoàng Sa của ta, mà người Trung Quốc xưa thường gọi là Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường, thì sử chí của họ chỉ đề cập một cách mơ hồ theo lời truyền ngôn. Các nhà khảo cứu nước này thường thuật lại qua lời kể của những người đi biển bị nạn, nên câu chuyện được thêm thắt vào đầy vẻ ma quái hoang đường. Chẳng hạn, sách Hải Ngữ [海語] của Hoàng Trung đời Minh, chép về Vạn Lý Thạch Ðường như sau :

Vạn Lý Thạch Ðường tại phía đông biển Ô Trư và Thạch Trư. Tại đó tuy trời nắng nhưng vẫn âm u, không giống như trong cõi trần ; thổ sản nhiều xà cừ. Chim có nhiều loại quỷ xa, có thứ 9 đầu, có thứ 3,4 đầu, rải rác khắp biển ; tiếng kêu gào ầm ỹ đến mấy dặm ; tuy kẻ ngu và loại hung hãn cũng xúc động buồn thảm, mồ hôi toát ra. Châu sư hàng hải trên thuyền lỡ tay lái thất thế, đâm vào đá tảng, thì hàng trăm mạng biến thành quỷ !

Tuy nhiên mới đây, để phụ họa cho việc tranh giành biển đảo, những nhà nghiên cứu viết theo đơn đặt hàng tại Trung Quốc cố tình gán ghép Trường Sa Thạch Ðường vào phủ Quỳnh Châu tức đảo Hải Nam, hoặc châu Vạn của phủ này. Nhắm vạch trần luận điệu sai trái đó, xin dịch nguyên văn cương vực phủ Quỳnh Châu và Châu Vạn, được chép trong Quảng Ðông Thông Chí để thấy một cách hiển nhiên rằng Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường hay quần đảo Hoàng Sa, không thể nằm trong đó được :

Phủ Quỳnh Châu : Phía nam là Chiêm Thành, tây là Chân Lạp, Giao Chỉ ; đông là Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường, phía bắc là huyện Tư Văn, phủ Lôi Châu.

Châu Vạn : Bề ngang rộng 205 lý, dọc 120 lý ; đông đến bờ biển 25 lý, tây đến núi Giá Cô Ðề 180 lý bên ngoài dân Sinh Lê sống, nam đến bờ biển 25 lý, bắc đến biên giới huyện Lạc Hội 95 lý.

*

Sự việc xẩy ra mỗi thời mỗi khác ; từ đầu thế kỷ 20 đến này, sau khi phát hiện tiềm năng khoáng sản nơi đại dương, người Trung Quốc tìm mọi cách tranh giành biển đảo. Cố tình quên đi sự thật lịch sử việc triều đình Trung Quốc công nhận vùng biển của Việt Nam, đã biết bao lần gửi chỉ dụ sang kêu gọi đánh dẹp giặc biển ngoài khơi ; nay họ vẽ bản đồ lưỡi bò đòi giành 80 % vùng biển đông, to tiếng rằng đó là bằng chứng không thể tranh cãi được ! Ðến đây, nhân vấn đề thời sự biển đảo, chợt nhớ đến Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, vốn mang dấu ấn từ hai dân tộc ; người viết bèn bắt chước "tập Kiều", với câu thơ Thúy Kiều trách vấn Tú Bà như sau :

" Giờ ra thay bực đổi ngôi,
Dám xin gửi lại một lời cho minh."


Hồ Bạch Thảo



1 Minh Thực Lục, Hồ Bạch Thảo dịch, Hà Nội : NXB Hà Nội, tập 1, văn bản 226.

2 Minh sử, quyển 323, mục Ngoại quốc.

3 Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí, quyển 384, phủ Liêm Châu.

4 Viên Ðại thần tên là Vương Chi Xuân.

5 Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí, sđd, quyển 384.

6 Quảng Ðông Thông Chí, sđd, quyển 9.

7 Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí, sđd, quyển 350.

8 Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí, sđd, quyển 350.

9 Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí, sđd, quyển 350.

25 July 2012

xuôi ngược trên CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC Bài số 2

xuôi ngược trên
CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Bài số 2
HỒ TẤN VINH
 
Tại hải ngoại, tình hình sinh hoạt của các hội đoàn, các đảng chánh trị trong quần chúng hay trên internet rất là hổn loạn khiến một người thường dân không hiểu nổi, không thể phân biệt đâu là thiệt, đâu là giả. Kẻ nội thù trà trộn trong hàng ngũ thao túng tự do.

Để lần mò tìm ra sự thật rồi từ đó mới xác định ai bạn ai thù, ta phải dựa vào ba nguyên tắc cơ bản:
1.- Chế độ cộng sản ở Việt Nam cần phải được thay thế.
2.- Chống cộng là một việc làm của nhiều người. Số người chống cộng càng đông càng tốt, càng mau có kết quả. Bất cứ ai chống chế độ CS ở VN đều là bạn đồng hành với chúng ta.
3.- Những người bạn đồng hành phải biết rằng nếu không thật tâm góp lực để chống cộng lại phí thời gian chống đối lẫn nhau là Việt gian, họ cố tình làm suy yếu nội lực chống cộng.
 
Để không bị chi phối bởi tình cãm riêng tư, ta cứ đem ra áp dụng triệt để ba nguyên tắc trên cho tình hình hiện nay thì có thể khách quan biết được ngay chỗ nào đúng chỗ nào sai, ai đóng góp cho đại cuộc và ai phá hoại.

Hiện nay có ba cánh chống cộng: Cánh Đối Kháng của những người CS cũ, Cánh của Người Việt Hải Ngoại và Lực Lượng Việt Nam do các tôn giáo lãnh đạo.
 
1.- CÁNH ĐỐI KHÁNG của những người CS cũ chìm và nổi. Không ai hiểu cộng sản hơn những người này vì vậy những liều thuốc mà họ kê, trị đúng ngay căn bịnh. Thường thường những người đối kháng là những người tiên phong đi trước dọn đường (Andre Shakarov, Alexander Solzhenitsyn, Dijas Milovan . . . Họ không phải là những người tổ chức sự thay đổi. Nhưng những người này có thể đóng vai trò quyết định trong giờ phút chót. Chúng ta không quên vai trò của Boris Yeltsin. Ông ấy là một nhà đối kháng chìm đó. Nhưng ông ta không có đơn độc. Sở dĩ ông ta thành công vì ông ta đã nhờ cả triệu người cộng sản đối kháng chìm khác hiệp sức.

Ta không thể biết hết sức mạnh của CÁNH ĐỐI KHÁNG vì nó không chỉ thể hiện ở những người đối kháng danh tiếng mà nó còn có một số lượng đối kháng ẩn danh. Số lượng này nhiều hay ít không chỉ tùy thuộc vào mức độ người dân chán ghét cộng-sản-trị mà nó còn tùy thuộc vào tư cách đứng đắng và uy tín của những nhà tranh đấu dân chủ.

Đương nhiên trong số người đối kháng, có người thật tình và có người giả vờ.

Chỉ có các cơ quan tình báo mới có khả năng phân biệt ai phản kháng thiệt ai phản kháng cuội. Người bình dân không có khả năng phân biệt họ được nhưng cũng không cần thiết phải phân biệt, vì ta đâu có bí mật quân sự gì để dấu mà sợ 'gián điệp'? Nếu thích thì mời nhau một ly càphê, không thích thì thôi, chớ 'bọn phản gián' có làm gì hại người quốc gia bao giờ đâu.

Nhưng giữa những người đối kháng với nhau họ biết phân biệt và xử lý.

Trường hợp cụ thể gần đây nhứt là lúc nhóm Trần Huỳnh Duy Thức phát động phong trào 'Con đường Việt Nam' thì bị Hà Sỹ Phu lên tiếng cảnh cáo ngay rằng có nhiều nghi vấn!

Những người trí thức này biết họ phải làm cái gì, và họ dư sức để tự điều hành và đóng góp vào đại cuộc lúc cần thiết.

Những người phản kháng này có đầy đủ tư cách để chống cộng như mọi công dân ái quốc khác. Trí thức của những người này rất cao. Tiếc rằng có khi họ không được đối xử công bằng. Điều này có thể chạm tự ái của cá nhân nhưng hậu quả tai hại nhứt là cho đại cuộc vì khả năng chống cộng của họ không được tận dụng.

Ta có thể thắc mắc tại sao hai người cùng có mục tiêu chống cộng, nếu người này chịu giúp người kia một tay thì phải vui mừng chớ sao lại quây ra chống đối lẫn nhau? Cái lý lẽ sơ đảng này ai cũng hiểu:

Phải có một người phô trương chiêu bài chống cộng nhưng để làm việc khác.

Nói theo kiểu của anh Nguyễn Hòa Bình viết cho tôi 'có rất nhiều người trong số họ đấu tranh theo đơn đặt hàng'.(1)

Ta phải im lặng chịu nhục nhã bao lâu nữa? Tuy nhiên, tình hình không còn hoàn toàn đen tối. Đã có diễn biến tốt. Những lời suy luận nghiêm chỉnh mới đây của các ông Nguyễn Thái Sơn và ông Nguyễn Kim Luân đối với nhà Đối Kháng quá cố Nguyễn Hộ rất can đảm và có thể mở đường cho một tinh thần mới, hy vọng mới.(2)
 
2.- NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI có một khả năng to lớn để ảnh hưởng đến vận mạng của đất nước.

Nhưng người Việt Hải Ngoại đã không biết xử dụng sức mạnh của mình. Họ không thể tập hợp thành một lực lượng thống nhứt. Họ chỉ là những nhóm nhỏ, nếu cựa quậy thì chống đối lẫn nhau nếu không, thì . . . ù lỳ không làm gì hết.

Những việc họ thường làm bấy lâu nay là chống đối vài ca sĩ CS đi trình diễn, đòi hỏi thả vài tù nhân chánh trị, đăng tin rùm beng những vụ tham nhủng, những cuộc đàn áp, cho người đọc có cảm giác là CS sắp sập v.v.  Có khi họ dùng cả những lời nguyền rủa ác độc như những vũ khí thần thánh. Đại cương, họ đã mất thời giờ thoa dầu cù là vào những hiện tượng ngoài da của một căn bịnh nội tạng.

Nếu đủ can đảm đem so sánh hiệu năng chống cộng của người bây giờ tự xưng là Quốc Gia với những người Đối Kháng, chưa biết ai hơn ai.

Để thiết thực giúp ích, người Việt Hải Ngoại phải biết rõ ràng cái gì họ có thể làm và cái gì họ không thể. Vì đã ra sống ở ngoại quốc nên họ không thể trực tiếp mổ con bịnh mà chỉ có thể yễm trợ cho lực lượng trong nước. Họ không thể có vai trò chỉ huy. Các đòi hỏi:

·     thả các tù chánh trị ra
·     tự do báo chí
·     tự do tôn giáo
·     bỏ điều 4 trong Hiến Pháp
·     viết Hiến Pháp mới
·     bầu cử tự do
·     tự do lập đảng
·     vân vân

đều phải do những người Lãnh Đạo trong nước tùy theo tình hình và suy nghỉ của họ mà quyết định. Người Việt Hải Ngoại chỉ ủng hộ những gì người trong nước đòi hỏi với công sản. Và sự ủng hộ này là vô điều kiện.
 
 
HỒ TẤN VINH
Melbourne
25 Tháng 7 năm 2012
(Còn tiếp)